Cao nguyên Đồng Văn - nét đẹp hoang dại



Cao nguyên đá Đồng Văn dù có tới và trở lại nơi đây, bạn vẫn thấy là lạ, vì nó đẹp, cái đẹp hoang dại, từ con người đến cảnh vật. Cái đẹp mà khi trải nghiệm rồi, vẫn có chút gì đó rất thú vị. Sức sống mãnh liệt... nơi cao nguyên đá.




Người dân vùng cao sống quyện cùng với đá, những ngôi nhà được dựng lên với bốn bề là đá
Người dân vùng cao sống quyện cùng với đá, những ngôi nhà được dựng lên với bốn bề là đá

Người dân vùng cao Đồng Văn sống quyện cùng với đá, dọn đá để dựng nhà, trồng trọt trên những khe đá, khoét đá để tìm dòng nước ngọt… Đá dựng thành tường rào bao quanh làng xóm, nhà cửa, đá giữ nước, giữ đất để có ruộng bậc thang.
Cao nguyên đá Đồng Văn ở Hà Giang là công viên địa chất cấp quốc gia. Ngoài những di sản được thiên nhiên ban tặng, Cao nguyên đá Đồng Văn còn chứa đựng bên trong những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc.
Tất cả cuộc sống của con người vùng cao đều gắn liền với đá
Đá dùng để làm nhà
Làm hàng rào
Hay đá đan xen với những luống hoa cải vàng tạo nên một bức tranh ấn tượng

Và thu hoạch cũng ngay tại vườn nhà

Những ngọn núi đá trùng trùng điệp điệp, những cánh đồng đá trải dài bất tận, tất cả cứ tràn vào nhau, hoà quyện vào nhau thành một bức tranh tuyệt đẹp nơi cực bắc Tổ quốc.

Caonguyenda.com (Theo: xaluan.com)


Đọc Tiếp... 0 nhận xét


Kỳ vĩ cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang)



Thâm trầm, tráng lệ như gợi nhớ về một thời hoàng kim, phố cổ Đồng Văn, Hà Giang nằm im lìm trong sương sớm của vùng cao nguyên đá đầy cuốn hút nơi miền biên ải, địa đầu Tổ quốc.



ảnh minh họa

Ngược lên cổng trời Quản Bạ, theo con đường Yên Minh - Mậu Duệ, qua đèo Cán Tỷ hiểm trở, đi trên những cánh rừng thông đại ngàn, những con dốc quanh co, uốn lượn như những dải lụa lên cao nguyên đá, đến phố cổ Đồng Văn - Hà Giang du khách sẽ được khám phá những bất ngờ...

Phố cổ trên cao nguyên đá

Phố cổ Đồng Văn hình thành và được xây dựng vào đầu thế kỷ 20. Thời gian đầu khi mới hình thành, cư dân ở khu phố này chủ yếu là người Tày và người Hoa. Đến thập niên 40, 50 có thêm người Kinh, người Dao, Nùng chuyển đến cư ngụ.

Khu phố cổ gồm khu chợ và hai xóm Quyết Tiến, Đồng Tâm với khoảng 40 hộ dân và 18 ngôi nhà cổ được xây dựng cách đây ngót 100 năm. Nếu so sánh với phố cổ Hội An, Hà Nội, làng cổ Đường Lâm thì phố cổ Đồng Văn không phải là cổ nhất, về quy mô cũng không lớn nhưng có những sắc thái riêng biệt, độc đáo của cư dân vùng cao nguyên đá biên cương Tổ quốc duy nhất ở Việt Nam. Các công trình kiến trúc độc đáo này được tạo nên từ những phiến đá tạc, đẽo công phu.

Đối diện khu chợ là dãy nhà dân san sát, nối tiếp nhau hợp thành một quần thể khu phố sầm uất hiện hữu giữa đất trời cao nguyên. Hầu hết các công trình nhà ở được trình tường hai tầng, lợp ngói âm dương. Nhìn tổng thể, phong cách kiến trúc của phố cổ Đồng Văn có sự giao thoa giữa kiến trúc truyền thống của cư dân bản địa với kiến trúc của cư dân vùng Hoa Nam (Trung Quốc).

Khu phố cổ thuộc xã Đồng Văn, xưa thuộc tổng Đông Quan, châu Nguyên Bình, phủ Tường Yên, tỉnh Tuyên Quang. Sau đó tách nhập vào châu Bảo Lạc do một thổ ty  người Tày họ Nông cai quản như một lãnh địa riêng.

Khu vực xã Đồng Văn hiện nay là nơi cư trú lâu đời của các dân tộc Kinh, Tày, Mông, Hoa, Lô Lô, Giáy... chủ yếu do các thổ ty họ Lương và họ Nguyễn (người Tày) cai quản.

Năm 1887, khi thực dân Pháp chiếm đóng Hà Giang lập ra bộ máy thống trị từ tỉnh đến các châu, tổng, xã, thực hiện chính sách chia để trị. Đồng Văn được chia ra làm 4 khu vực cho các thổ ty nắm giữ. Vùng đất của xã Đồng Văn hiện nay chủ yếu do thổ ty Nguyễn Chánh Quay cai quản. Phố cổ Đồng Văn được hình thành từ thời bấy giờ.

Khu chợ Đồng Văn là nơi giao thương của đồng bào các dân tộc. Đến phiên chợ, các thiếu nữ Mông, Pu Péo, Lô Lô xúng xính trong những bộ trang phục dân tộc từ các bản làng xa xuống chơi chợ và mua sắm, gặp gỡ, trao đổi hàng hóa lung linh những sắc màu thổ cẩm. Đồng bào ăn bát thắng cố, uống rượu ngô, cùng trò chuyện đã tạo cho khu chợ có nét văn hóa đặc sắc.

Khu chợ có lối kiến trúc Việt - Hoa có sự giao thoa rất tinh tế hợp với phong thủy miền cao nguyên. Những dãy cột đá ba, bốn người ôm được đục đẽo rất đẹp. Khu chợ bề thế, vững chãi giữa lòng chảo thung lũng cao nguyên như một nét chấm phá đầy ấn tượng. Công trình chợ Đồng Văn với kết cấu hình chữ U tráng lệ, thâm trầm lối kiến trúc trên đá được xây dựng trong khoảng thời gian từ 1925 - 1928.

Cổ và đẹp nhất ở phố cổ Đồng Văn hiện nay là nhà của bà Tân đang cư trú ở thôn Quyết Tiến (xã Đồng Văn). Chính dòng họ Lương người Tày, đứng đầu là thổ ty Lương Trung Nhân nức tiếng một thời đã đứng ra thuê thợ từ Tứ Xuyên (Trung Quốc) về thiết kế ngôi nhà này năm 1890. Dù bị xuống cấp rất nhiều ở phần tường hậu, nhưng vẻ mềm mại, cổ kính của nó thì vẫn còn nguyên.

Đèn lồng phố cổ

Từ khi UBND huyện Đồng Văn có văn bản quyết định tổ chức đêm phố cổ Đồng Văn hằng tháng và cấp cho chủ mỗi ngôi nhà cổ vài chiếc đèn lồng đỏ treo để thắp trước nhà, ngôi nhà của thổ ty Lương Trung Nhân (bà Tân đang sử dụng) lại có thêm một vẻ đẹp mới.

Cách biệt thự trình đất và nhà gồm nhiều viên đá tảng của Lương Trung Nhân không xa là biệt phủ của thổ ty người Tày Nguyễn Đình Cương (1865-1928) và dòng họ Nguyễn. Ông đã sang tận Tứ Xuyên mời một đoàn thợ về xây một tòa nhà lớn vào năm 1920.

Sau này, dinh thự ấy cũng được con trai thổ ty tên là Nguyễn Chánh Quay sử dụng, rồi về sau bán cho Nhà nước vào năm 1958. Tiếp đó, toà biệt thự cổ trở thành Trường cấp 1 xã Đồng Văn (1960-1978), rồi làm trụ sở UBND xã (1979-1984).

Ngôi nhà xây năm 1925, do một chức sắc địa phương là Tạ Hổ Thần cai quản trong nhiều thập kỷ, hiện nay bà Phạm Thị Thư đang sử dụng và còn rất nhiều ngôi nhà cổ ở Đồng Văn hiện nay đang được đem ra phục vụ du lịch.

Riêng khu nhà cổ cũng được người dân địa phương xây dựng trong khoảng thời gian từ 1923 - 1940 đã tạo nên khu phố cổ Đồng Văn như diện mạo hiện nay.

Caonguyenda.com (Theo: xaluan.com)


Đọc Tiếp... 0 nhận xét


Huyền thoại trên cao nguyên đá



Ngày 3/10/2010, tại Lesvos (Hy Lạp), cao nguyên đá Đồng Văn (tỉnh Hà Giang) đã chính thức trở thành thành viên của Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu GGN (Global Geoparks Network). Đây là nơi duy nhất trên toàn thế giới có quần thể dân cư sinh sống lâu đời ngay trong khu vực công viên địa chất.


Hàng rượu ngô chợ phiên Đồng Văn.
 

Đáng tiếc, hầu hết các dân tộc sống trong lòng di sản thiên nhiên rộng lớn ấy (ngoại trừ người Dao) đều không có chữ viết nên không có nền văn hiến, thư tịch lưu truyền. Lịch sử, văn hóa của hàng chục dân tộc anh em trên một vùng thiên nhiên kỳ vĩ chỉ được khám phá như những huyền thoại, ẩn hiện như khói sương lan tỏa trên các triền dốc dựng đứng của nơi  từng được mệnh danh  là "xứ sở của những cổng trời".


KỲ I: NHỮNG CUỘC THIÊN DI

Chúng tôi có mặt tại Đồng Văn vào cận tết Tân Mão, đúng vào những ngày đầu tiên của đợt rét đậm, rét hại kéo dài cả tháng. Buổi sáng sớm, nhiệt độ vào khoảng 7-80C. Rét buốt, dường như không chỉ du khách lười ra đường mà ngay cả đến đá bản địa cũng chẳng muốn cựa mình. Núi đá trập trùng với những triền dốc hình thành nên những cổng trời nổi tiếng Quản Bạ, Cắn Tỷ, Mã Pí Lèng,... cũng im phăng phắc như đang vùi trong giấc ngủ đông dằng dặc. Sâu hun hút dưới chân Mã Pí Lèng (nghĩa là đèo “pín” ngựa), đoạn từ Đồng Văn xuyên sang Mèo Vạc, sông Nho Quế cũng bất động một vệt sáng bạc, chỉ hiện ra mờ  mờ sau lớp sương dày vừa bị những tia  nắng hiếm hoi cuối mùa đông xé rách.
Tuy đã là di sản, là thành viên của mạng lưới công viên địa chất toàn cầu, miền đá Đồng Văn vẫn "ngủ yên", theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Chưa có thêm bất kỳ một hoạt động xây dựng, khai thác nào xứng tầm và song hành cùng danh hiệu "di sản địa chất thế giới". Ngay cả cổng chào hay panô, bảng hiệu cũng chỉ mới được dựng thêm dè dặt vài  ba cái ở đầu mỗi huyện lị. Vật liệu xây dựng thô sơ, không giấu giếm ý nghĩa tạm bợ, tượng trưng, sẵn sàng để được tháo dỡ, thay thế  bất kỳ  lúc nào...
Thật may mắn, chuyến ngược Hà Giang tôi được đồng hành cùng ông Mã Ngọc Giang, Giám đốc Ban quản lý dự án Công viên Địa chất cao nguyên đá Đồng Văn và Tiến sĩ Mai Thanh Sơn của Viện Phát triển bền vững vùng Trung Bộ, thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Là nhà quản lý, ông Giang nắm số liệu dân cư, địa hình, loại hình di sản và chủ trương bảo tồn, khai thác Công viên Địa chất cao nguyên đá Đồng Văn trong lòng bàn tay.
Tiến sĩ Mai Thanh Sơn, nickname "sonhmong" thì lại là người đã có nhiều công trình nhân học - dân tộc học nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của một số dân tộc vùng Bắc và Tây Bắc, nhất là với người Mông, quần thể chủ nhân đông đảo nhất của vùng cao nguyên đá. Những thắc mắc của tôi vì thế đã không mất nhiều thời gian để tìm câu trả lời.
Ông Mã Ngọc Giang cho biết, từ nay đến hết tháng 6/2011, nhiệm vụ của BQL Dự án là  hoàn tất hồ sơ để phục vụ cho công tác thẩm định theo yêu cầu của GGN. Có tất cả hơn 100 di sản, trong đó có trên 10 di sản quốc tế cực kỳ quý hiếm như hẻm núi Mã Pí Lèng, núi đồi Quản Bạ, hóa thạch cổ sinh, voọc mũi hếch, cây thông đỏ, cây 7 lá 1 hoa... cần được nghiên cứu, đánh giá, thẩm định tỉ mỉ trước khi "chạm tay" vào. Sớm nhất cũng phải đến đầu năm 2012, những dự án tác động đầu tiên, cả vật chất lẫn tinh thần vào cao nguyên đá mới bắt đầu, tránh kiểu can thiệp "xây không bằng phá" đã từng xảy ra một cách đáng tiếc đối với không ít miền di sản khác.
Ôm hết mỏm cực Bắc Việt Nam, miền đất di sản Cao nguyên đá Đồng Văn trải rộng trên một khu vực 2.352km2 gồm 4 huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ. Trước khi chia tách vào năm 1962, cả 4 huyện này được gọi chung là cao nguyên Đồng Văn. Dân số hiện tại của vùng công viên địa chất vào khoảng 250.000 người, trong đó người Mông đông nhất, chiếm khoảng 77%. Văn hóa Mông, tập quán người Mông... do đó cũng in dấu đậm nét nhất trên vùng đất này. Ngoài ra còn có thêm 16 dân tộc khác như Tày, Dao, Nùng, Lô Lô, Giáy, La Chí, Pà Thẻn, Cờ Lao, Kinh... quần tụ hợp thành một đại gia đình các dân tộc sống rải rác trong 224 làng bản khắp cao nguyên đầy những triền đá.
Cột cờ Lũng Cú nằm trên đỉnh núi Rồng, có độ cao trên 1.700m so với mực nước biển. Cách đó chỉ chừng 200m đường chim bay là điểm cực Bắc của đất Việt, nằm giữa lòng sông Nho Quế, ranh giới tự nhiên phân chia cương thổ 2 nước Việt - Trung. Ngay tên gọi của điểm địa đầu cũng đã chứng tỏ  mảnh đất này là nơi sinh sống từ rất lâu đời của nhiều dân tộc khác nhau. Chữ Lũng Cú được giải thích là từ đọc trại của nhiều âm Hán Việt khác nhau, gồm Lùng Cư, Long Cổ, Long Cư, Long Cú... với nhiều ý nghĩa khác nhau như Đất Trồng Ngô, Sừng Rồng, Trống Rồng, Mắt Rồng, hay vùng Đất Rồng, tùy theo quan niệm và cách phát âm của các dân tộc sống quanh đó. Cột cờ đầu tiên được Lý Thường Kiệt dựng nên bằng nguyên một gốc samu lớn đem về từ Quảng Tây (Trung Quốc) sau khi hạ thành Ung Châu trên đất Tống, năm 1076.
Dưới chân cột cờ có một bản người Lô Lô lâu đời, tiếng địa phương gọi là Lô Lô Chải (bản người Lô Lô). Đến giữa tháng 1/2011, Lô Lô Chải vẫn chỉ có 96 nóc nhà, 492 nhân khẩu. Ít ỏi, nhưng những người Lô Lô này cùng với một bản người Pu Péo nhỏ khác bên kia núi Rồng lại là những chủ nhân đầu tiên của cao nguyên đá, tổ tiên họ là những người có mặt sớm nhất và có công khai phá đầu tiên miền đất Đồng Văn, trước cả thời điểm Lý Thường Kiệt dựng cột cờ Lũng Cú.
Bản Lô Lô này còn giữ 2 báu vật là cặp "khà dừ" (trống đồng), một trống đực, 1 trống mái có niên đại từ thế kỷ XIV. Ngày thường, trống được chôn xuống đất, khi có tang ma hay lễ lạt lớn mới được đào lên, chọn đàn ông đã yên bề gia thất, hội đủ tiêu chuẩn thủ trống. Từ cặp trống đồng này, người Lô Lô Chải có thêm một cách giải thích, rằng Lũng Cú là cách đọc âm của từ Long Cổ, nghĩa là Trống Rồng!
Đồng chủ nhân của cao nguyên đá Đồng Văn, người Tày là dân tộc có kho tàng phonklore (văn hóa dân gian) rất phong phú. Bên cạnh những nét tương đồng trong quan niệm, tín ngưỡng... với các dân tộc  láng giềng, kho tàng sử thi, thần thoại, truyện cổ tích, dân ca, tục ngữ Tày còn hàm chứa rất nhiều nét tương đồng văn hóa lúa nước với các tác phẩm truyền miệng cùng thể loại của người Kinh ở miền xuôi. Tuy nhiên, chỉ có người Dao là sắc dân cổ ở Đồng Văn có văn tự riêng, một kiểu chữ Nôm Dao dùng ký tự chữ Hán ghi cách đọc âm tiếng Dao như kiểu chữ Nôm của người Việt miền xuôi.
Người Mông được ghi nhận đến muộn hơn, mãi cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII mới có mặt tại Đồng Văn. Về nguồn gốc, tuy còn rất nhiều tranh cãi, song các nhà dân tộc học hầu như đều đồng ý rằng, người Mông Việt Nam nói chung và người Mông cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang) nói riêng là một đại tộc tách ra từ liên minh bộ lạc Cửu Lê sinh sống tập trung ở vùng Kinh Châu - Giang Hoài (nay thuộc tỉnh Hồ Nam và một phần tỉnh Quý Châu, Trung Quốc). Liên minh bộ lạc này hình thành trên cơ sở sự thống nhất các bộ lạc Miêu - Dao cổ có lịch sử khoảng 5.000 năm.

Cột cờ Lũng Cú nhìn từ Lô Lô Chải.
Đèo Mã Pí Lèng từ Đồng Văn qua Mèo Vạc.
Suốt một tiến trình lịch sử dài dằng dặc, trong sự giao thoa, khi tương tác, khi chống đối với đại tộc Hán, liên minh bộ lạc Miêu - Dao đã có những biến động chia tách lớn cả về hai mặt địa lý và xã hội. Sau hàng thiên niên kỷ, địa bàn sinh sống của người Cửu Lê đã ngày một bị dồn sâu xuống phía tây nam khu vực địa bàn của người Hán, tập trung chủ yếu ở vùng Cao nguyên Vân - Quý (Vân Nam - Quý Châu). Trong quá trình thiên di, xã hội Cửu Lê cũng biến động dữ dội nhiều đợt, vừa phân rã, vừa phát triển thành các tộc Tam Miêu, Kinh Man, Kinh Sở, Vũ Lăng Man và cuối cùng phân hóa thành các tộc Miêu - Dao như ngày nay.
Tiến sĩ Mai Thanh Sơn cho rằng: "Cho đến nay, chưa ai có thể đưa ra một giả định có tính thuyết phục về thời gian cũng như trình tự phân hóa của các hệ phái Miêu". Kết quả của chuỗi phân hóa này lại tiếp tục hình thành nên hàng loạt sắc dân Mông mang các đặc điểm vừa mang nét tương đồng, vừa có sự khu biệt, gọi bằng những cái tên Mông Đỏ, Mông Đen, Mông Xanh, Mông Hoa, Mông Trắng... Quá trình phân tách diễn ra chủ yếu trong thời Minh - Thanh. Như vậy, về nguồn gốc, trước khi xuất hiện và cùng chung sống trên cao nguyên Đồng Văn, hai dân tộc Mông và Dao đã có quan hệ rất gần về nguồn cội.
Để lý giải nguyên nhân thiên di của người Mông vào Việt Nam, hầu hết các nhà nghiên cứu đều dựa vào những biến động xã hội ở khu vực Nam và Tây Nam Trung Quốc giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVII trở về sau. Tuy nhiên, về mốc thời gian lẫn nguyên nhân lịch sử, các giả thiết đều mang những điểm "chỏi" nhau cơ bản và gay gắt. Giả thiết được xem là hợp lý nhất, được nhiều nhà nghiên cứu cả Trung lẫn Việt đồng tình nhất có khuynh hướng gom quá trình thiên di này thành 4 đợt có quy mô lớn.
Đợt thứ nhất diễn ra vào mạt kỳ nhà Minh, giữa thế kỷ XVII. Trong hai năm 1658-1659, quân Thanh lần lượt đánh chiếm Quý Dương (Quý Châu) và Côn Minh (Vân Nam), đuổi Vua Minh Vĩnh Lịch chạy sang Myanmar. Hơn 2.000 người Mông thuộc 4 dòng họ là Vù, Hạng, Lý, Giàng - vì tránh loạn lạc - đã từ Quý Châu, Tứ Xuyên, Quảng Tây, Vân Nam di cư đến vùng núi Việt Nam, gần biên giới Việt - Trung.
Đợt thứ hai diễn ra vào nửa sau thế kỷ XVIII, theo Tiến sĩ Mai Thanh Sơn thì có thể sau thất bại của cuộc "khởi nghĩa Càn Gia" (1795 - 1796), đi thẳng từ Từ Quý Châu, xuống cao nguyên Đồng Văn. Đợt thứ ba vào nửa cuối thế kỷ XIX, thời các triều vua Hàm Phong, Đồng Trị nhà Thanh, thủ lĩnh của các dòng họ Lý, Dương, Vù và Vàng dẫn đầu các đoàn người Mông từ Quý Châu, Tứ Xuyên, Quảng Tây, Vân Nam chia làm 3 đường trong vòng 5 năm (một đường qua Quảng Tây, hai đường qua Vân Nam) tiến xuống vùng núi rộng lớn thuộc cả Đông và Tây Bắc Việt Nam.
Đợt di cư thứ tư - đợt lớn nhất - diễn ra sau cuộc chiến tranh Nha phiến của Trung Quốc (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX). Hơn 1 vạn người Mông chia làm nhiều đoàn theo nhiều con đường khác nhau tiến vào khu vực miền núi ở cả phía Đông và phía Tây Bắc Việt Nam, trong đó có các huyện vùng cao nguyên Đồng Văn. Một bộ trong họ chỉ lấy Bắc và Tây Bắc nước ta làm điểm dừng chân, rồi tiếp tục di cư sang Đông và và Đông Bắc Lào, sau đó sang Đông Bắc Thái Lan.
Còn có một nguyên nhân xã hội khác bắt nguồn từ tập quán canh tác "đao canh hỏa chủng" (tức phát - đốt - chọc - trỉa). Đất đai canh tác bị thu hẹp và giảm độ phì, tình trạng "nhân mãn" xảy ra, người Mông từ phương Bắc lại di cư thành từng đợt lẻ tẻ theo từng nhóm nhỏ lùi dần về phương Nam. Tiến trình này xảy ra liên tục trong nhiều thế kỷ.
Bất đồng trong cách kiến giải về nguyên nhân và mốc thời gian, nhưng hầu hết các kết quả nghiên cứu lẫn tài liệu điền giả đều có xu hướng thống nhất rằng nguồn gốc người Mông cao nguyên Đồng Văn khởi phát từ cao nguyên Vân - Quý, đông nhất là từ Quý Châu. Nhiều bản làng Mông Hà Giang vẫn còn truyền tụng câu hát: "Quý Châu là quê hương yêu dấu của đồng bào Mông ta. Vì người Mông ta đói rách, vì dân Mông ta không có chữ, thua kiện người Hán nên phải mất nương, vì người Mông ta không có chữ nên phải dời quê".
Gia phả chép bằng chữ Hán của Giàng, họ Vàng ở Đồng Văn, Mèo Vạc cũng khẳng định tổ tiên họ sang Việt Nam đã được 16-17 đời, khoảng trên dưới 300 năm. Nơi đến đầu tiên được xác định là các xã thuộc huyện Mèo Vạc hiện nay. Trong dân ca được lưu truyền trong cộng đồng Mông nhiều nơi trên thế giới, kể cả ở Pháp, Mỹ, Thái Lan có một đoạn rất phổ biến kể về nơi phát tích: "Con cá ở dưới nước/ Chim bay ở trên trời/ Chúng ta sống ở vùng cao/ Con chim có tổ, Người Mông ta cũng có quê hương/ Quê hương ta là Mèo Vạc...".
Không nghi ngờ gì nữa, Mèo Vạc, rồi toàn vùng cao nguyên đá Đồng Văn, ngoài di sản địa chất tự nhiên còn  mang trong lòng nó cả một di sản nhân học - dân tộc học đồ sộ. Đó sẽ là một di sản điểm nhấn, một mục tiêu nghiên cứu quan trọng và hấp dẫn đối với giới khoa học và những người  thích khám phá trên toàn trái đất
(Còn nữa)

Caonguyenda.com (Theo: xaluan.com)


Đọc Tiếp... 0 nhận xét


Chùm ảnh: Xem kỳ thạch trên cao nguyên đá Đồng Văn




Sự kết hợp hài hòa giữa con người và cảnh quan, sự tồn tại của con người làm cho cao nguyên đá trở nên sinh động:các ruộng đá, các bờ rào đá.


...hay sự thân thiện của một người đàn ông ngà ngà sau cuộc rượu ở chợ phiên khiến ai đó một lần lên cao nguyên đá đều mong mỏi chóng đến ngày lại đ
...hay sự thân thiện của một người đàn ông ngà ngà sau cuộc rượu ở chợ phiên khiến ai đó một lần lên cao nguyên đá đều mong mỏi chóng đến ngày lại đ

Ngày 03/10/2010, cao nguyên đá Đồng Văn chính thức được công nhận là 1 trong 77 công viên địa chất trên thế giới (24 nước) và là công viên địa chất thứ 2 tại khu vực Đông Nam Á.
Công viên địa chất Đồng Văn bao gồm toàn bộ diện tích 4 huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, có diện tích hơn 2.300km2, với gần 250 ngàn người. 80% diện tích cao nguyên là đá vôi, mang nét đặc trưng của vùng khí hậu ôn đới…
Với gần 20 dân tộc, sắc phục, kiến trúc và phong tục đặc sắc của họ cũng làm cho cao nguyên đá rất hấp dẫn và có sức cuốn hút rất lớn. Hy vọng từ đây đời sống vốn nghèo của người dân nơi đây sẽ được dần cải thiện.
Mô tả ảnh.
Hơn 20 dân tộc sinh sống trên cao nguyên đá Đồng Văn khiến nơi đây thật hấp dẫn về tính đa dạng văn hóa. (Ảnh chụp tại Sà Phìn - Đồng Văn)
Mô tả ảnh.
Với tính độc đáo trong địa chất, địa mạo, thích hợp để bảo tồn, nghiên cứu khoa học đồng thời tiềm năng dễ được khai thác nên cao nguyên đá Đồng Văn được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp Quốc (UNESCO) công nhận là Công viên địa chất. (Ảnh chụp tại Quản Bạ- Hà Giang)

Qua khảo sát thực địa, các nhà khoa học phát hiện khoảng 40 điểm di sản có giá trị về mặt tài nguyên, ý nghĩa quốc gia và quốc tế như: 7 di sản về tiến hóa Trái đất, 7 di sản về vườn đá... (Ảnh: Xuân Trường)
Mô tả ảnh.
Sự đa dạng về kiến trúc của các tộc người, những tường rào xếp bằng đá đặc trưng của người H’Mông ở xã biên giới Phố Cáo là một trong những nét hấp dẫn của cao nguyên đá.
Mô tả ảnh.
Nhà cửa của dân tộc H’Mông ở xã vùng biên Lũng Táo (Đồng Văn, Hà Giang) được dựng trên nền đá cũng là nét độc đáo của cao nguyên đá.
Mô tả ảnh.
Một góc Yên MInh.
Mô tả ảnh.
Dinh thự của "Vua" người H’ Mông tại Sà Phìn, Đồng Văn được bao quanh bởi bức tường đá vẫn sừng sững đến ngày nay.
Mô tả ảnh.
Một ngôi mộ cổ hoàn toàn bằng đá được chạm khắc tinh xảo tại xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn.
Mô tả ảnh.
Chợ phiên với rực rỡ màu sắc trang phục các dân tộc trên cao nguyên đá từ lâu đã thu hút du khách khắp nơi trên thế giới.
Mô tả ảnh.
Ở phiên chợ bò Sà Phìn, những khối đá luôn được người dân dùng làm "cọc" buộc những con bò mang bán.
Mô tả ảnh.
Gia súc, gia cầm mang đến chợ bán đều được người dân xách hay nặng hơn thì vác. khiêng. (Ảnh chụp tại chợ Đồng Văn, huyện Đồng Văn.
Mô tả ảnh.
Chợ không chỉ là nơi mua, bán mà còn là nơi sinh hoạt văn hóa của người dân các dân tộc quần cư trên cao nguyên đá, mọi người mua bán cứ mua bán, người đàn ông này ngập chìm trong điệu Khèn của chính mình.. (Ảnh chụp tại chợ Đồng Văn)
Mô tả ảnh.
Do địa hình phức tạp, khó đi lại, người dân sinh sống thưa thớt nên những người đàn ông này đến chợ Sà Phìn mỗi tuần không phải để mua,  bán, họ đến để gặp gỡ trò chuyện thông qua những bát rượu.
Mô tả ảnh.
Tiến sĩ Michiel Dusar, Giám đốc Sở Địa chất Bỉ rất vui khi trong quá trình khảo sát ông thấy các dòng sông ở cao nguyên đá Đồng Văn vẫn trong xanh, cho thấy môi trường ở đây vẫn chưa bị ô nhiễm.
Mô tả ảnh.
Khó khăn lớn nhất mà người dân trên cao nguyên đá phải chịu đựng là sự khan hiếm nước. Người dân sống ở xã Phố Cáo, huyện Đồng Văn thường tắm rửa, giặt giũ ở chiếc cống dẫn đồng thời thoát nước chạy dọc theo con phố này.
Mô tả ảnh.
Một kiểu địu con độc đáo của người dân cao nguyên đá.
Mô tả ảnh.
Những đứa trẻ đi chơi chợ (Chợ Mèo Vạc, huyện Mèo Vạc)
Mô tả ảnh.
Những hoa văn sặc sỡ nổi giữa núi rừng...

Caonguyenda.com (Theo: xaluan.com)


Đọc Tiếp... 0 nhận xét


Di sản vô giá trên cao nguyên đá




Cao nguyên đá Đồng Văn – Mèo Vạc đang được lập hồ sơ để công nhận là công viên địa chất quốc gia và gia nhập mạng lưới di sản toàn cầu.

Một góc cao nguyên đá Đồng Văn. Ảnh: Trung Kiên
Một góc cao nguyên đá Đồng Văn. Ảnh: Trung Kiên
Dự kiến hồ sơ công viên địa chất (CVĐC) sẽ được hoàn thiện vào năm 2010. Giá trị di sản này dựa trên những giá trị địa chất cổ sinh, là thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học. Tuy nhiên, kết quả này có thể mất đi vĩnh viễn trước tình trạng nhiều người dân do chưa hiểu giá trị của đá, đang tàn phá cao nguyên đá.

Gần 20 năm dày công nghiên cứu
Khái niệm CVĐC ra đời ở Trung Quốc vào những năm 1985, được hiểu là một vài hay nhiều loại di sản địa chất, có ranh giới địa lý hành chính rõ ràng. Nhưng bên cạnh các giá trị địa chất địa mạo, trong phạm vi của khu bảo tồn còn hội tụ các giá trị về cảnh quan, đa dạng sinh học, văn hóa, lịch sử, khảo cổ… Đặc biệt, khác với khu bảo tồn thiên nhiên thông thường, tất cả những giá trị đó cùng được nghiên cứu, đánh giá, trong đó có vai trò của cộng đồng được trực tiếp bảo tồn, khai thác và sử dụng một cách bền vững.

Đối chiếu với khái niệm này, từ năm 1993, Viện Khoa học địa chất và khoảng sản (VIGRM, Bộ TN-MT) đã tập trung thu thập, tổng hợp, nghiên cứu, đánh giá hiện trạng bảo tồn di sản địa chất tại Việt Nam.

Tiến sĩ kinh tế (TSKT) Trần Tân Văn, Phó Viện trưởng VIGMR cho biết khu cao nguyên đá Đồng Văn - Mèo Vạc có tới 80% diện lộ đá vôi, được cấu tạo từ các điều kiện cổ môi trường và giai đoạn phát triển rất khác nhau, rất có giá trị về lịch sử tiến hóa trái đất. Các kết quả nghiên cứu đều cho thấy trên cao nguyên đá Đồng Văn có mặt các trầm tích từ kỷ Đá vôi Cambri-Ordovic dày 800m, có niên đại 600- 400 triệu năm, kỷ Đá vôi Devon dày 300m, niên đại 390-360 triệu năm, kỷ Đá vôi Carbon-Permi dày trên 1.000m và đá vôi Trias dày 400-600m, niên đại 360-310 triệu năm.

Từ những kết quả này, VIGMR đã xây dựng được bản đồ địa chất tỷ lệ 1/200.000, thể hiện các di sản địa chất cổ sinh địa tầng, cấu trúc kiến tạo, khoáng sản; bản đồ địa mạo tỷ lệ 1/50.000 thể hiện các biểu hiện di sản địa chất, địa mạo, bộ bản vẽ hang động, bộ mẫu ảnh, mẫu vật phong phú.

VIGMR cũng chỉ ra khu vực cao nguyên đá Đồng Văn hội tụ trên 20 cảnh quan karst vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có giá trị làm giàu cảnh quan như: Vườn hoa đá Khau Vai, Vườn thú đá Lũng Pù, Bãi Hải cẩu Vân Chải, Hoang mạc đá Sảng Tủng… và hệ thống hang động phong phú.

Những giá trị cần được bảo tồn
Những giá trị địa chất cổ sinh, karst được các nhà khoa học nghiên cứu, tìm ra là cơ sở để  lập hồ sơ xây dựng khu vực Cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc trở thành CVĐC và tiến tới gia nhập hệ thống CVĐC toàn cầu. Đó là tín hiệu đang mừng không chỉ cho tỉnh Hà Giang, mà cả đất nước có thêm di sản thiên nhiên thế giới.

Đối với riêng người dân khu vực cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc, khi được công nhận là CVĐC, người dân có thể trực tiếp tham gia vào việc bảo tồn di sản bằng hình thức phát triển sản phẩm du lịch ngay trong khu vực CVĐC. TSKT. Trần Tân Văn cho rằng, đó chính là điểm khác biệt lớn nhất giữa CVĐC và các di sản thiên nhiên khác.
Người dân có thể trực tiếp tham gia vào việc bảo tồn di sản bằng hình thức phát triển sản phẩm du lịch. Ảnh: Trung Kiên
Tuy nhiên, trong khi các nhà khoa học, cơ quan chức năng đang gấp rút hoàn thiện hồ sơ công nhận CVĐC thì rất nhiều cảnh quan trong khu vực này đang đứng trước nguy cơ bị hủy hoại, xuống cấp.

TS. Vũ Cao Minh cho biết, các di sản về lịch sử tiến hóa trái đất ở cao nguyên Đồng Văn như: Khu vực Ma Le, Lũng Cú, đèo Si Phai (thị trấn Đồng Văn) rất có giá trị về nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo đang rơi vào tình trạng dễ bị tổn thương do điều kiện thiên nhiên và đặc biệt là sự tàn phá của con người.

“Các cảnh quan, danh thắng như: Vườn hoa đá Khau Vai, Vườn Thú đá Lũng Pù, bãi hải cẩu Vân Chải… và hàng loạt hang động ở khu vực này đang bị người dân địa phương tàn phá một cách vô ý thức. Các giá trị mà thiên nhiên phải mất hàng chục triệu năm mới kiến tạo được cho con người đang dần bị mất đi vĩnh viễn”, TS Minh nhấn mạnh.
Ông Nguyễn Trùng Thương, Giám đốc Sở VH - TT Hà Giang cho biết, UBND tỉnh vừa quyết định thành lập Trung tâm bảo tồn công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn. Trung tâm đã tiến hành cắm biển 8 điểm quan trọng nhất, dày đặc di tích để giao cho UBND xã bảo vệ. Trung tâm cũng đang xúc tiến kêu gọi sự đóng góp, tham gia của doanh nghiệp xây dựng và khai thác giá trị du lịch của những khu vực này.


Caonguyenda.com (Theo: xaluan.com)


Đọc Tiếp... 0 nhận xét


Chọi bò giữa cao nguyên đá




 - Con bò của đồng bào nơi đây không đơn giản là công cụ lao động, mà còn là niềm tự hào, là đặc sản của cao nguyên đá khắc nghiệt này.
Mèo Vạc đầu thu, trên các sườn núi bao quanh phố huyện nhỏ toàn thân cây ngô vàng úa sau mùa thu hoạch của bà con dân tộc. Hội chọi bò ở đây xôm tụ và tưng bừng như lúc các thôn bản nghỉ tay chơi Tết vậy. Ít người biết rằng, con bò của đồng bào nơi đây không đơn giản là công cụ lao động, mà còn là niềm tự hào, là đặc sản của cao nguyên đá khắc nghiệt này.
Chạy ngược từ cao nguyên địa chất Đồng Văn, con đường “Hạnh phúc” nổi tiếng đưa chúng tôi qua Mã-Pì-Lèng, dốc núi theo tiếng Mông có nghĩa là “Đến con ngựa leo lên cũng phải thở dốc”.
Từ trên cao nhìn xuống, dòng sông Nho Quế lặng lẽ chảy giống một sợi chỉ vắt giữa thung lũng, và huyện Mèo Vạc hiện ra như thách thức sự khắc nghiệt của thiên nhiên.
Đối với đồng bào ở Cao nguyên đá, con bò mới là đầu cơ nghiệp
Nơi đây, chỉ có loài cỏ voi mọc xanh rờn 2 bên đường, vừa làm hàng rào cho bà con dân tộc, vừa là thức ăn cho giống bò cao nguyên, vừa là một trong những loại cây trồng của đồng bào dân tộc. Không biết có phải vì ăn thứ cỏ to như cây mía non, mọc mạnh mẽ giữa cao nguyên đá này hay không, mà giống bò ở Mèo Vạc cũng như 3 huyện lân cận to và đẹp một cách lạ thường.
Chỉ tầm 5-6 tuổi, nhưng trung bình mỗi chú bò cũng nặng từ 5 tạ, cá biệt có con lên đến gần 1 tấn. Gù lưng nhô cao và vô cùng hữu ích khi cùng bà con vượt đá tai mèo, canh tác trên những dẻo núi vắt vẻo giữa tầm cao hơn 1000m ở dãy cao nguyên đá hùng vĩ của 4 huyện Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ và Đồng Văn.
Nhân dịp kỷ niệm 120 năm thành lập tỉnh Hà Giang, trong các ngày 23-24/8 những chú bò thân thiết của bà con đồng bào có dịp phô diễn vẻ đẹp cũng như sức lực tại giải chọi bò lần đầu tổ chức tại huyện Mèo Vạc.
Ông Trịnh Chính Phương, Phó Giám đốc Trung tâm thi đấu Thể dục Thể thao tỉnh Hà Giang, thành viên BTC giải cho biết: “Ngoài công cụ lao động sản xuất ở núi đá cheo leo thì bò còn là hàng hóa ở các phiên chợ vùng cao thường mang lên trao đổi”.
Quả thật việc đem bò đi thi đấu còn là một sự bỡ ngỡ với bà con dân bản nơi đây, bởi từ bao năm nay chú bò trở thành thành viên trong gia đình, là công cụ canh tác hữu hiệu của đồng bào. Chính vì thế, nhiều trận đấu diễn ra với những tình huống khá hài hước. Lúc thì 2 chú bò chỉ nhìn nhau như người bạn, có chú còn tưởng đối thủ là bạn tình, có những chú khi bước ra sân đấu lại lặng lẽ gặm cỏ một cách ngẩn ngơ.
Những chú bò mập mạp với cặp sừng rắn chắc
Tuy nhiên, không vì thế mà giải đấu bò trở nên buồn tẻ bởi có những cặp đấu khiến cho hàng ngàn khán giả có mặt tại sân vận động huyện Mèo Vạc nổ bùng bởi 2 “đấu sĩ” lao vào nhau vô cùng quyết liệt.
Để có thể lựa chọn trong đàn một “vận động viên” bò tốt nhất, bà con thường nhắm vào những con bò nghịch nhất, gù lưng nhô cao, sừng không quá dài nhưng sắc nhọn  và đặc biệt cũng là con bò ăn khỏe nhất đàn.
Anh Vàng Minh Cá, một chủ bò người dân tộc Tày của huyện Mèo Vạc chia sẻ kinh nghiệm nuôi bò: Ở đây nuôi bò phải cho ăn nhiều cỏ, bỗng rượu nó mới béo.
Giải đấu bò lần đầu tiên của Hà Giang được tổ chức ở Mèo Vạc đã thành công tốt đẹp với giải nhất thuộc về “đấu sĩ bò” của xã Lũng Pù cùng phần thưởng 19 triệu đồng.
Bà con nơi đây đã chứng minh cho mọi người thấy sức sống mãnh liệt và sự tìm tòi, sáng tạo trong lao động để bám trụ lại nơi mà đất thịt còn ít hơn đá tai mèo. 30 chú bò của 18 xã vùng cao huyện Mèo Vạc được tuyển chọn kỹ lưỡng bằng kinh nghiệm của chủ bò đã đem đến những phút giây kịch tính và vui nhộn.
2 “đấu sĩ” lao vào nhau vô cùng quyết liệt
Khác với chọi trâu ở Đồ Sơn, bà con dân tộc nơi đây coi chọi bò là thú chơi, ít ai giết thịt chúng. Và ở núi đá khô cằn này, “con trâu là đầu cơ nghiệp” không thể sống khỏe và hữu ích như những chú bò này.
Giải chọi bò lần đầu tiên đã thành công tốt đẹp, với sự hứng khởi của đồng bào khi con bò của họ được khắp nơi biết đến. Điều này hứa hẹn sẽ tăng thêm thu nhập vào các dịp hội chợ, nơi mà lái buôn từ miền xuôi vẫn đánh xe lên chợ Mèo Vạc để mua bò với giá từ 15- 30 triệu một con, nhiều hơn hẳn khoản thu nhập vào ngô và đậu tương của đồng bào nơi đây. Và đó cũng là cơ sở để người dân có thể tự tin hơn khi phát triển giống bò độc đáo của cao nguyên đá./.
Caonguyenda.com (theo: vov.vn)


Đọc Tiếp... 0 nhận xét


Lên Mèo Vạc xem hội chọi bò




 - Giữa núi non trùng điệp, 34 con bò đực khỏe mạnh mang tới cho khán giả theo dõi những màn thi đầu cực kỳ hấp dẫn
  • Lễ hội chọi bò nằm trong chương trình Lễ kỷ niệm 120 năm (20/8/1891-20/8/2011) và 20 năm tái lập tỉnh Hà Giang (1991-2011). 
Đây là một hoạt động văn hóa mang nhiều ý nghĩa, là dịp để địa phương sưu tầm, bổ sung thêm vào các lễ hội văn hóa truyền thống đặc sắc diễn ra hàng năm, góp phần làm phong phú thêm các hoạt động văn hóa và đời sống tinh thần của bà con các dân tộc.

Ngoài ý nghĩa về văn hóa, Lễ hội chọi bò năm nay còn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến với Hà Giang, khi Cao nguyên đá Đồng Văn chính thức gia nhập mạng lưới Công viên Địa chất toàn cầu.
Người ta thường nói "Con trâu là đầu cơ nghiệp" nhưng đối với bà con đồng bào vùng núi phía
Bắc, con bò mới là tài sản giá trị nhất.
Hội chọi bò lần thứ nhất được tổ chức giữa núi non trùng điệp của huyện vùng cao Mèo Vạc
Tham gia giải năm nay có 34 con bò được tuyển chọn kỹ lưỡng từ 18 xã, thị trấn trong huyện
Đây đều là những con bò từ 5- 6 tuổi được chăm sóc rất kỹ lưỡng
34 con bò được chia làm 17 cặp đấu
Tiếng trống, tiếng cổ vũ vang lên cả một góc núi rừng
Bụi đất bắn tung
Sau một hồi hăng máu, một con "chổng vó"
Các con bò đều được đánh số cẩn thận
Trong lúc chờ vào thi đấu, nhiều chú bò không giữ được "bình tĩnh"
Khán giả vùng cao tìm mọi chỗ để  có thể xem được trận đấu bò
Caonguyenda.com (Theo: vov.vn)


Đọc Tiếp... 0 nhận xét


 

Nonstop - Việt Remix

Thủ Thuật Smartphone

Tin Tức Biển Đông

© 2010 cao nguyen da All Rights Reserved Thesis WordPress Theme Converted into Blogger Template by Hack Tutors.info